Bón phân cho cây ngô

Posted By: Trung Thanh Doan In: Root On: Friday, October 21, 2016 Comment: 0 Hit: 254

1- Đặc điểm nông học và yêu cầu ngoại cảnh:

Cây ngô là loại cây trồng có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới, cây ngô yêu cầu ánh sáng mạnh, trồng trong điều kiện được chiếu sáng mạnh ngô sẽ cho năng suất cao, phẩm chất hạt tốt. Nhiệt độ lý tưởng để ngô sinh trưởng và phát triển là 25-300C. Ngô là cây cần đất ẩm, nhưng khả năng chịu úng kém. Bình quân một cây ngô trong vòng đời cần phải có 7-10lít nước để sinh trưởng và phát triển. Nhu cầu về nước của cây ngô thay đổi theo từng thời kỳ sinh trưởng.Cây ngô có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, tuy nhiên ngô thích hợp nhất là trên đất có thành phần cơ giới nhẹ, độ màu mỡ cao, dễ thoát nước, tầng canh tác dày, độ pH: 6-7.

2. Kỹ thuật trồng

Ngô có thể trồng nhiều vụ trên năm, tùy theo khí hậu của từng vùng mà thời vụ gieo trồng ngô có khác nhau song chủ yếu vẫn là 3 vụ chính: đông xuân, hè thu và thu đông. Ở các tỉnh vùng Đông Nam bộ và Tây nguyên, thời vụ ngô chủ yếu vào các tháng trong mùa mưa.Kỹ thuật trông ngô đơn giản chủ yếu là mật độ khoảng cách và kỹ thuật sử dụng phân bón cho ngô cần được chú trọng.

3- Nhu cầu và vai trò các chất dinh dưỡng với cây ngô

Đạm là yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng nhất, đóng vai trò tạo năng suất và chất lượng. Đạm được tích luỹ trong hạt 66%. Cây ngô hút đạm tăng dần từ khi cây có 3-4 lá tới trước trổ cờ. Ở nước ta, một số kết quả nghiên cứu cho thấy thời kỳ hút đạm mạnh nhất là 6-12 lá và trước khi trổ cờ, nếu các giai đoạn này mà thiếu đạm thì năng suất giảm rõ rệt. Triệu chứng thiếu đạm: cây thấp, lá nhỏ có màu vàng, các lá già có vệt xém đỏ, cây sinh trưởng chậm, cằn cỗi, cờ ít, bắp nhỏ, năng suất thấp.Lân là yếu tố quan trọng đối với sinh trưởng và phát triển của cây, tuy nhiên khả năng hút lân ở giai đoạn cây non lại rất yếu. Thời kỳ 3-4 lá, cây ngô hút không được nhiều lân, đó là thời kỳ khủng hoảng lân của ngô, nếu thiếu lân trong giai đoạn này sẽ làm giảm năng suất nghiêm trọng. Cây ngô hút nhiều lân nhất (khoảng 62% tổng lượng lân yêu cầu) ở thời kỳ 6-12 lá sau đó giảm đi ở các thời kỳ sau. Triệu chứng thiếu lân của ngô biểu hiện bằng màu huyết dụ trên bẹ lá và gốc cây, trái cong queo. Trường hợp thiếu nặng lá sẽ chuyển vàng và chết. Kali có vai trò rất quan trọng tới sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của ngô. Kali tích luỹ nhiều ở thân lá (khoảng 80%) và tích luỹ trong hạt ít hơn. Cây ngô hút kali mạnh ngay từ giai đoạn sinh trưởng ban đầu. Từ khi cây mọc tới trổ cờ ngô đã hút khoảng 70% lượng kali cây cần. Thiếu kali các chất prôtit và sắt sẽ tích tụ gây cản trở quá trình vận chuyển chất hữu cơ. Thiếu kali là nguyên nhân rễ ngang phát triển mạnh, rễ ăn sâu kém phát triển do đó cây dễ đổ ngã. Thiếu kali thể hiện ở các triệu chứng như chuyển nâu và khô dọc theo mép lá và chóp lá, bắp nhỏ, nhiều hạt lép ở đầu bắp (bắp đuôi chuột), năng suất thấp.

3.1. Phân bón cho cây ngô

Lượng phân bón cho ngô tùy theo giống, ngô lai cần bón nhiều hơn ngô thường và ngô thu trái non (ngô rau, ngô bao tử). Trên các loại đất nghèo dinh dưỡng như đất xám, đất cát cần bón nhiều lân và kali hơn so với đất phù sa, đất đỏ bazan

Bảng 2: Liều lượng phân bón sử dụng cho ngô trên các loại đất khác nhau

3.2. Thời kỳ bón phân, cách bón.

Bón lót: 10 tấn phân chuồng + 100% phân lân.Bón thúc 1: (Khi cây ngô có 3 – 4 lá): Bón 20% đạm + 20% kali.Bón cách gốc 10 cm.Bón thúc 2: (Khi cây ngô có 7 – 8 lá): Bón 40% đạm + 40% kali. Bón cách gốc 15 cm.Bón thúc 3: (Khi cây ngô xoáy nõn): Bón 40% đạm + 40% kali. Bón cách gốc 15 – 20cm.

4. Hiệu lực của kali đối với ngô

Hiệu lực của kali đối với ngô thường thể hiện rõ trên các loại đất nghèo kali như đất đất bạc màu, đất xám, bón kali cho ngô (giống MSB 49) đạt hiệu lực rất cao, 9 – 37,6 tạ/ha hay 23 – 836% so với đối chứng không bón kali tùy theo có bón hay không bón phân chuồng. Hiệu suất sử dụng kali cao, đạt trung bình 15-20 kg ngô/kg K2O
 

Comments

Leave your comment