Cây Na

Cây Na

 1.   Đất đai

Na ưa đất thoáng, không nên trồng ở đất thấp úng. Tuy chịu được đất cát xấu nhưng chỉ phát huy được ưu điểm nếu đất nhiều màu và không bón phân thì chóng già cỗi, nhiều hạt, ít thịt (cơm). Phải chăm sóc cây từ khi trồng để cây khoẻ, nhiều nhựa (sức sống tốt) thì mới cho trái ngon. Thích hợp nhất trên loại đất phù sa. Đất nhiều vôi và magiê (Mg) trái to và ngọt hơn. Na không chịu chua, độ pH thích hợp là 5,5 – 7,4. Nếu trồng trên đất vùng đồi nên chọn loại có độ dốc < 150 . Có kinh nghiệm chọn đất sỏi cơm là tốt nhất.

2.     Phân loại Na

Hiện nay đang phổ biến chủ yếu việc phân loại cây Na

Dựa vào đặc điểm quả na, theo đó cây mãng cầu ta được biết đến có 2 loại chính là Na dai và                                                          

I.   Biện pháp kỹ thuật

  1. Vườn ươm Na
    • Yêu cầu vườn ươm
  • Gần nguồn nước hoặc nơi có điều kiện tưới nước thuận lợi cho việc tưới tiêu cho cây Na
  • Gần vườn trồng mới để tiện cho quá trình vận chuyển cây con ra trồng mới.
  • Tiện đường vận chuyển để quá trình chuyên chở cây giống không quá khó khăn.
  • Độ dốc của vườn không quá 50 nhằm hạn chế quá trình xói mòn đất ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của cây
  • Đất chọn làm vườn ươm phải thoát nước tốt không bị úng nước vào mùa mưa sẽ thuận lợi cho quá trình sinh trưởng phát triển của cây con nhất là bộ rễ.
  • Đất chọn làm vườn ươm phải tốt, lớp đất mặt phải có hàm lượng mùn cao (đất màu đen hoặc xám) và có thể sử dụng làm đất vào bầu

·   Chuẩn bị vườn ươm

Chuẩn bị vườn ươm là khâu quan trọng và cần thiết trước khi nhân giống cây Na. Chuẩn bị vườn ươm bao gồm các bước sau:

  • Dọn thật sạch nền đất, đánh gốc rễ còn sót và mang ra ngoài
  • Cày đất ở độ sâu 10 - 15cm và tiếp tục dọn thật sạch những tàn dư thực vật, đá sỏi.

·        Xác định phạm vi luống

Xác định phạm vi luống giúp chúng ta tiết kiệm được diện tích vườn ươm và thuận tiện hơn trong quá trình chăm sóc Na. Xác định phạm vi của luống như sau:

  • Luống rộng từ 1,1 – 1,2m, dài từ 20 - 25m
  • Lối đi giữa hai luống rộng 35 - 40cm
  • Lối đi giữa hai đầu luống rộng 50 – 60cm - Lối đi chính cách nhau 50 - 60m, rộng 1 – 2m
  • Lối đi quanh vườn ươm từ luống đến vách che rộng 0,8 – 1m

1.2.     Chuẩn bị bầu đất

+ Sử dụng túi nhựa kích thước 14 x 25cm hoặc 15 x 18 – 20 cm, vì hiện nay trên thị trường có bán nhiều loại túi nhựa để vào bầu ươm cây khác nhau.

+ Đục 6 lỗ nhỏ phân bố thành 2 hàng ở nửa dưới của bầu, hàng dưới cùng cách đáy bầu 2cm để giúp bộ rễ cây vừa sử dụng được nhiều nước tưới vừa tránh úng cho bộ rễ.

- Chuẩn bị hỗn hợp đất vào bầu:

+ Sử dụng lớp đất mặt 10 – 15cm, tơi xốp, hàm lượng mùn cao, không lẫn tạp rễ cây, đá sỏi.

+ Phân hữu cơ các loại với yêu cầu hoai, tơi nhỏ.

+ Phân lân super.

+ Trộn đều đất và phân theo tỷ lệ: đất/phân hữu cơ = 4/1 và trộn thêm 5 – 6kg phân lót , 1 – 3kg vôi trên 1m3 đất trộn.

  • Đóng hỗn hợp vào bầu: Đảm bảo được đất trong bầu chặt, cân đối, không gãy khúc rời ra từng phần. Trọng lượng mỗi bầu khoảng 1 – 1,5
  • Cố định bầu theo luống: Lấp 1/3 – 1/4 phần cao của bầu vào sâu trong đất và đặt bầu thẳng đứng khít lại với nhau và thẳng hàng.

2.  Nhân giống Na

Có 2 cách nhân giống Na là: Nhân giống bằng hạt và Nhân giống vô tính bằng biện pháp ghép cành

2.1.  Nhân giống bằng hạt

  • Ưu điểm
  • Kỹ thuật đơn giản, dễ làm.
  • Cây có bộ rễ phát triển mạnh, tuổi thọ thường cao hơn các phương pháp nhân giống khác.
  • Cây nhân giống từ hạt sinh trưởng khỏe, tính chống chịu với ngoại cảnh
    • Nhược điểm
  • Có thể có biến dị, cây mẹ tốt nhưng cây con có thể xấu; những cây con được nhân giống từ một cây mẹ có thể đạt kết quả khác nhau về sản lượng, chất lượng

. - Cây nhân giống từ hạt sinh trưởng chậm.

  • Tiến hành:

Do hạt có vỏ cứng bao quanh nên có thể bảo quản được 2 – 3 năm.

Xử lý hạt bằng cách: xóc hạt với cát cho sứt vỏ, hoặc xử lý axit sunfuric, ngâm nước nóng 55 – 60oC trong 15 - 20 phút, hạt có thể nảy mầm sau 2 tuần lễ.

Trồng từ hạt sau 2 - 3 năm cây có thể cho trái.

2.2.  Nhân giống bằng phương pháp ghép

  • Ưu điểm

+ Cây ghép sinh trưởng tốt nhờ bộ rễ của gốc ghép, tuổi thọ dài;

+ Cây vẫn giữ được đặc tính di truyền tốt của cây mẹ sau khi ghép;

+ Cây sớm ra hoa kết quả, cho thu hoạch, hệ số nhân giống cao, thời gian nhân giống nhanh.

+ Nâng cao được sức chống chịu của cây giống. Duy trì được nòi giống đối với những giống không hạt.

+ Cây con sớm thích ứng với môi trường sinh thái, khả năng chống chịu tốt khi gặp điều kiện thời tiết bất thuận.

  • Nhược điểm

Việc sản xuất cây giống bằng ghép có một số nhược điểm sau:

  • Khi sản xuất cây giống bằng ghép yêu cầu người sản xuất phải có kỹ thuật cao.
  • Tuổi thọ của cây thường ngắn hơn so với nhân giống bằng hạt
  • Trước hết phải chọn những cây mẹ có những đặc tính ưu việt như: trái to ít hạt, hạt nhỏ, độ đường cao, dễ vận chuyển (múi dính thành một khối).
  • Na dai chỉ có thể ghép tốt trên 2 gốc ghép là na dai và nê (có người gọi là bình bát vì trái giống bình bát) nhưng hạt nê khó kiếm, vậy tốt nhất là dùng gốc ghép na

Có thể ghép áp, ghép cành hay ghép mắt. Gốc ghép phải 1 - 2 tuổi.

  • Cành ghép là cành đã hóa gỗ đường kính 1 cm trở lên lấy ở đoạn cành lá đã rụng hết.
  • Cắt dài 12 cm, có thể ghép nêm vào cành gốc ghép, cũng có thể cắt ngọn gốc ghép rồi cắt vạt gốc ghép và cành ghép sao cho áp vào nhau vừa vặn. Vết cắt dài khoảng 5 - 6

3.     Trồng và chăm sóc Na

3.1.  Thời vụ trồng

Đầu mùa xuân và có thể kéo dài đến tháng 8, 9. Nhất thiết phải tưới đẫm nước khi vừa trồng, dù là cây ươm trong bầu, hay cây đánh đi trồng cho đến khi cây xanh trở lại, phải tưới nếu nắng hạn. Sau này khi cây đã ra trái, tưới bổ sung khi gặp trời hạn cũng có lợi.

3.2.          Yêu cầu đất trồng

Đất cát sỏi, đất thịt nặng, đất có vỏ sò hến, đất đá vôi đều trồng được Na. Đất trồng Na tốt nhất là đất có tầng đất dày, đất rừng mới khai phá, đất đồi ven sông suối, đất chân núi đá vôi thoát nước nhiều mùn, giàu dinh dưỡng, độ pH 5,5 - 7,4. Chọn đất đồi dốc nhỏ hơn 150. Đất chua cần bón 30kg vôi bột/năm/ 360m2 .

Yêu cầu kỹ thuật làm đất:

- Làm đất đúng thời vụ, làm sớm trước khi trồng 1-2 tháng

  • Làm đất kỹ, sạch cỏ dại. Dọn sạch các loại gốc cây.
  • Làm đúng độ sâu.
  • Nếu làm đất bằng máy cày sâu 30- 35cm.

3.3.  Tiến hành trồng

Bón lót

  • Cân lượng phân bón cần dùng cho mỗi hố. Thông thường, bà con nông dân thường cân lượng phân cho vài hố đầu tiên, sau đó ước lượng lượng phân cho những hố tiếp theo để giảm bớt công khi bón phân.Đưa hỗn hợp phân và đất xuống đáy hố
  • Rắc vôi bột xuống đáy hố và thành hố
  • Trộn phân với đất màu đưa xuống chiếm dưới đáy hố. Độ dày lớp đất này tùy thuộc vào độ cao của địa hình.

Địa hình càng cao lấp càng ít đất để đảm bảo khả năng giữ nước tốt, đồng thời không gây úng đọng nước ở những địa hình thấp. Thông thường lấp đất cao hơn miệng hố 10 – 20cm.

Tiêu chuẩn cây

Với cây ghép: Sau khi ghép khoảng 5-6 tháng, cây con cao khoảng 60-100 cm là có thể đem trồng. Không nên để quá lâu trong vườn ươm, cây già tuổi quá, tỷ lệ sống không cao.

Với cây gieo hạt: Yêu cầu đường kính gốc cây từ 0,6- 1,0cm, cây cao 30-40cm. Nếu là cây gieo ngoài luống đất thì tránh lúc cây ra lộc non và nên hồ rễ trước khi đem trồng

Cách trồng

Hố có kích thước vừa bằng bầu cây (đối với hình thức chiết và ghép), hoặc bằng chiều dài của bộ rễ cây (đối với hình thức trồng bằng rễ trần).

- Nếu trồng bằng hình thức ghép hoặc chiết cành, cần phải xé vỏ bầu trước khi đặt vào hố trồng. Kỹ thuật xé bỏ vỏ bầu:

+ Đặt bầu cây đứng thẳng trên mặt đất Tạo hố nhỏ

+ Dùng ngón tay cái và tay trỏ của hai bàn tay cầm tại hai vị trí sát nhau trên cùng một cạnh của mép bầu.

+ Nhẹ nhàng xé rách túi bầu từ trên xuống đến đáy bầu.

  • Đặt cây giữa hố ngắm thẳng hàng, các cây trên hàng trồng cùng 1 lần. Sau khi trồng xong cần chống đổ cho cây

Tưới nước: Lượng nước và số lần tưới tưới tùy thuộc vào độ ẩm đất, loại đất

  • Với đất khô, cần tưới lượng nước nhiều hơn đất ẩm và số lần tưới cũng nhiều hơn.
  • Đất có tỷ lệ cát cao cần tưới nhiều nước hơn đất có tỷ lệ sét cao và số lần tưới cũng nhiều hơn.

3.4.   Chăm sóc

  • Tưới nước

Lượng nước tưới cho cây cần sử dụng được căn cứ vào các yếu tố sau:

  • Kích thước cây: Cây càng to thì phải tưới càng nhiều nước hơn.
  • Mức độ thường xuyên của việc tưới: Nếu có điều kiện thường xuyên tưới được thì lượng nước tưới cho mỗi lần sẽ giảm xuống.

Nếu không có điều kiện thì lượng nước tưới cho mỗi lần tăng lên.

  • Các phương pháp tưới thường áp dụng : tưới phun mưa, tưới ngầm, tưới rãnh , tưới ngập

3.4.2.    Bón phân

a, Thời kỳ bón phân

- Ở thời kỳ kiến thiết cơ bản:

Sau trồng khoảng 1 tháng (khi cây đã bén rễ, hồi xanh), tiến hành bón thúc lần thứ nhất.

Cứ sau mỗi đợt lộc thành thục, lá chuyển màu xanh thì lại tiếp tục bón thúc cho cây.

Bón thúc làm nhiều lần vào các đợt chuẩn bị ra cành để nhanh tạo bộ khung tán. Tối thiểu phải bón làm 3 lần :

+ Lần 1: Thúc cành xuân vào tháng 1-2.

+ Lần 2: Thúc cành hè vào tháng 5-6.

+ Lần 3: Thúc cành thu vào tháng 8-9.

- Ở thời kỳ kinh doanh: Thường bón làm 3 lần/năm.

+ Lần 1: Bón thúc hoa, thúc quả vào tháng 2-3.

+ Lần 2: Bón thúc cành thu và tăng trọng lượng quả, vào tháng 6-7.

+ Lần 3: Bón lót cơ bản vào tháng 10-11.

+ Ở thời kỳ kiến thiết cơ bản: Thúc cành xuân: Bón phân hữu cơ, lân và kali. Thúc cành hè: Bón phân lân, đạm và kali. Thúc cành thu: Bón đạm và lân

+ Ở thời kỳ kinh doanh: Thúc hoa, quả, tăng trọng lượng quả và thúc cành thu:

Bón đạm và kali. Bón lót cơ bản: Bón phân hữu cơ, lân và vôi b, Xác định lượng phân bón

Tùy thuộc vào tuổi cây, sản lượng quả thu hoạch của năm trước, độ phì của đất mà lượng phân bón khác nhau:

+Thời kỳ kiến thiết cơ bản (1-3 tuổi)

- 15-20 kg phân chuồng cùng với 0,2 - 0,4 kg phân lân nung chảy bón 1 lần/năm vào cuối mùa sinh trưởng (từ tháng 11 - 1); 0,4-0,7kg urê và 0,2-0,3k g sunfat kali bón làm 3 lần vào các tháng 1-2; tháng 4-5 và tháng 8-9.

+ Lần 1: 30% phân đạm

+ Lần 2: 40% đạm + phân kali

+ Lần 3: 30% đạm còn lại và toàn bộ phân chuồng.

+ Thời kỳ kinh doanh (từ 4 tuổi trở lên)

  • Với cây 4 năm tuổi: 15-20 kg phân chuồng + 0,6-0,8 kg đạm urê + 0,3-0,4 kg supe lân +0,2-0,3 kg kaliclorua + 0,2-0,3 kg vôi
  • Với cây từ 5 - 8 tuổi: 10-25 kg phân hữu cơ + 1,0-1,5 kg đạm urê + 0,5-0,8 kg supe lân + 0,5-0,7 kg clorua kali + 0,3-0,4 kg vôi.
  • Với cây trên 8 tuồi: 30-40 kg phân hữu cơ + 1,5-2,0 kg đạm ure + 0,7-1,0 kg lâ supe + 0,7-1,0 kg kaliclorua + 0,5-0,6 kg vôi bột

b, Thời vụ bón:

Lần bón

Tháng

Mục đích

Lượng bón mỗi lần (% so với cả năm)

Hữu

Vôi

Lân

supe

Đạm

Ure

Kali

clorua

1

11-12

Bón lót, vun gốc

100

100

100

 

20

2

2-3

Đón lộc, hoa

0

0

0

40

30

3

6-7

Nuôi quả, cành

0

0

0

40

40


4

9-10

Bón phục hồi sau thu

hoạch

Phân bón NPK và phân trung vi lượng

14

 


Cách bón

  • Phân hữu cơ:

Đào rãnh theo hình chiếu tán cây (1/2 phía trong tán, 1/2 phía ngoài tán), rộng 20-40, sâu 30-40cm, thả phân rồi lấp kín đất. Nếu trời nắng và đất khô thì phải tưới nước.

  • Phân vô cơ:

+ Với đất bằng phẳng: Cào sạch lớp phủ trên mặt, rải đều phân trên mặt đất quanh khu vực tán cây, cào lớp phủ lên sau đó tưới nước.

+ Với đất dốc: Cuốc hố theo điểm đại diện (3-5 điểm), trộn đều các loại phân bón, lấp đất.

Sâu bệnh: Na ít sâu bệnh. Tuy vậy cần chú ý phòng trị rệp sáp, rất phổ biến ở các vườn ít chăm sóc. Khi na chưa có trái rệp bám ở dưới mặt lá, dễ nhận ra ở màu trắng sáp và các tua trắng quanh mình, sinh sôi ở đó. Khi có trái thì bám vào trái hút nhựa, từ khi trái còn non đến tận khi chín, thường ở kẽ giáp ranh giữa hai múi vì chỗ này vỏ mỏng, không những làm mất mỹ quan, khó bán được, mà còn làm giảm chất lượng.

  • Trị bằng thuốc: Supracid, Bi 58ND, Applaud, Mipcin... Xịt vào cuối vụ, khi không còn trái. Khi có trái, xịt cả vào trái, vào lá. Khi trái sắp chín, không xịt nữa, tránh gây độc cho người tiêu thụ.

3.4.3.    Cắt tỉa, thúc hoa, đậu quả

a, Có thể sử dụng các chế phẩm đậu quả

Sau khi hoa Na được thụ phấn bổ sung, ta tiến hành phun chế phẩm đậu quả. Hoa được phun thuốc kích thích đậu quả khoảng 10 ngày sau sẽ hình thành quả non, tập trung trong thời gian 1 tháng, hoa mãng cầu ta thường ra rải rác trong thời gian 2 tháng. Để tăng cường tỷ lệ đậu quả và kích thước quả trong sản xuất, người ta thực hiện biện pháp kỹ thuật phun chế phẩm HPC B97

b, Phương pháp tuốt lá

Sau khi cắt tỉa một thời gian, cây sẽ ra lộc cùng với mầm hoa.

Sau khi cây ra lộc thành thục, tiến hành cắt tỉa thêm một lần nữa, loại bỏ bớt cành tăm, cành sâu bệnh, cành gối nhau giúp cho cây chuẩn bị bước sang giai đoạn phân hóa mầm hoa được thuận lợi.

Thông thường tùy vào tuổi cây mà lựa chọn phương pháp cắt tỉa khác nhau

Sau khi tuốt lá, tỉa cành khoảng 15 ngày sau thì cây Na ra những lộc mới. Những lộc này sau 10 - 15 ngày sau sẽ nhú hoa cho quả nhanh to và nhanh thu hoạch.
4.  Phòng trừ sâu, bệnh:

a/- Bệnh thán thư: Do nấm Colletorichum gloesporivides hại hoa, quả ở bất kỳ tuổi nào và cả đọt non.

Phòng trị: Phun thuốc: Kasuran BTN, Benlat C 50WP, Copperzin WP, Aliette 80 BTN.

b/- Rệp sáp, rầy mềm, rệp dính: Cần phải phun thuốc ngay khi thấy xuất hiện. Những loại này bám dính vào cành lá. Nhất là quả, kể từ khi giai đoạn quả nhỏ đến giai đoạn chín.

Phòng trị: Bằng thuốc: Supracide 40EC/ND, Aplaud Mipc 25 BTN

c/- Kiến: Thường xuất hiện kèm với rầy mềm và rệp sáp. Do đó phải phòng trừ.

d/- Sâu đục thân và trái: Đục vào thân cây làm gãy cành, và sâu đục vào trái ở bất cứ giai đoạn nào từ trái nhỏ đến lớn.(như đã nêu ở trên.

Phòng trị: Basudin 10H, Regent 0,3G…

e/- Bệnh đốm trái: Để giữ cho màu sắc trái đẹp dễ tiêu thụ trên thị trường cần phải phòng trừ bệnh đốm trái, dùng thuốc: Bavistin - 50 FL (SC), Carbenvil 50 SC, Tilt Super 300ND/EC, Vicarben - S 75 BTN…

III.    Thu hoạch

Thu làm nhiều đợt khi quả chín đã mở mắt, vỏ quả chuyển màu vàng xanh và vỏ ngoài của múi tách xa nhau, rãnh giữa các múi đầy lên, màu trắng kem. Trên vỏ quả màu xanh lợt dần, thu hoạch vào buổi sáng. Thu hoạch khi trái đủ già, không nên để chín mới thu hoach sẽ khó bảo quản khi vận chuyển đi xa

Chú ý: Do vỏ trái Na thường mỏng, nếu để trái chín trên cây mới thu hoạch thi khó bảo quản và vận chuyển đi xa.

 

← Bài trước Bài sau →
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên

Bình luận